Những bài viết hay dành cho người mới bắt đầu

Thảo luận trong 'HD cho người mới bắt đầu' bắt đầu bởi Thanksforsharing, 16/5/15.

Trạng thái chủ đề:
Không mở trả lời sau này.
  1. Thanksforsharing

    Thanksforsharing Moderator

    Tham gia ngày:
    1/1/10
    Bài viết:
    2,433
    Đã được cảm ơn:
    824
    Điểm thành tích:
    113
    Tiền:
    3,304 CR
    Các bạn thân mến, như tôi đã trình bày với các bạn tại đây, nay tôi xin stick mục này lên như là nơi lưu giữ tất cả các bài viết hay về kỹ thuật tổng quát, hay các bài giải thích thêm về các thuật ngữ đã được trả lời nhưng vì quá ngắn (dưới dạng hỏi – đáp) nên không lột tả hết được. Tôi sẽ cố gắng chỉnh chu cho các bài viết sao cho chúng vừa ngắn gọn nhưng đầy đủ và chính xác, đặc biệt là hầu hết mọi người ai đọc cũng có thể hiểu được.
    Vì đây chỉ là nơi chuyên chứa tài liệu, ngoài ra mỗi bài viết khi được chủ nhân post lên (ngay sau đó) đều có phần tham gia ý kiến của các thành viên. Do đó tại đây sẽ không có phần tham gia bàn tán thêm ý kiến vì sẽ làm rối và loãng các đề tài được đăng.
    Tên của người viết bài được sticky sẽ được ký (in đậm) ngay cuối bài kèm với link của bài viết gốc để các bạn tiện liên lạc với người viết hoặc tham gia thảo luận ý kiến cá nhân.
    Mong các bạn ủng hộ và trong khả năng xin tham gia tích cực viết bài cho chủ đề được sticky này.
    Xin cảm ơn các bạn nhiều.
     
    Chỉnh sửa cuối: 16/5/15
  2. Thanksforsharing

    Thanksforsharing Moderator

    Tham gia ngày:
    1/1/10
    Bài viết:
    2,433
    Đã được cảm ơn:
    824
    Điểm thành tích:
    113
    Tiền:
    3,304 CR
    Ðề: Những bài viết hay dành cho người mới bắt đầu

    Kiến thức cơ bản về dây dẫn và thông số kỹ thuật trong âm thanh


    Trong một dàn âm thanh, sự liên kết, hỗ trợ giữa các thiết bị với nhau để tạo ra một âm thanh hoàn hảo ảnh hưởng của các thiết bị đến chất lượng âm thanh là điều mà chúng ta đã biết từ lâu. Đa số các yếu tố như dải tần số, độ méo tiếng, dải động… đều phụ thuộc vào chúng. Tuy nhiên bên cạnh các thiết bị âm thanh, ảnh hưởng của dây cáp kết nối đến chất âm của bộ dàn thì không phải ai cũng biết. Thiết kế, chất liệu và kết cấu của cáp kết nối có ảnh hưởng như thế nào đến tín hiệu âm thanh?

    I. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dây dẫn


    1/ Đầu tiên chúng ta xem xét các yều tố về mặt điện học

    Tất cả chúng ta đều đồng tình rằng có một vài yếu tố về điện học ảnh hưởng rõ rệt đến màn trình diễn của dây cáp âm thanh. Ví dụ như các dây dẫn đều có một “sức cản” nhất định đối với tín hiệu âm thanh. “Sức cản” này gọi chung là trở kháng của dây dẫn. Trong đó, bao gồm 3 thành phần chính tạo nên là điện trở thuần (hay điện trở đối với dòng một chiều), dung kháng và cảm kháng. Điện trở thuần của dây được tính bằng ohm/m, dây càng dài điện trở thuần càng cao. Đường kính dây cáng lớn điện trở một chiều càng thấp. Trở kháng dòng xoay chiều cũng được đo bằng ohm nhưng không phụ thuộc vào độ dài của dây dẫn.

    Đối với vật dẫn điện, ta cần xét đến vài tính chất cơ bản. Trong đó quan trọng nhất là Trở kháng, Dung kháng và Cảm kháng. Trở kháng thường được nói tới là điện trở một chiều. Dung kháng và Cảm kháng là các tính chất động của vật dẫn, và chỉ tồn tại nếu đang bàn tới tín hiệu xoay chiều, như tín hiệu nhạc đang được truyền qua vật dẫn.

    Điện trở một chiều chỉ được coi trọng trong dây loa “nếu bạn nối một dây có đường kính nhỏ với một khoảng cách dài hàng mấy chục mét từ ampli công suất đến loa thì khi sử dụng với volume cao, giống như bạn đang “đốt cháy” đoạn dây đó. Hầu hết năng lượng tải đến loa sẽ bị tiêu tán thành sức nóng trên dây, năng lượng không được truyền đầy đủ tới cuộn dây loa để làm cho màng loa chuyển động hoàn hảo và hậu quả là dải động của âm thanh cũng bị nén rất hẹp, nghe rất yếu.

    Một số yếu tố về mặt điện học gây tranh cãi nữa là hiệu ứng mặt ngoài. Chúng ta đều biết, dòng điện xoay chiều tần số cao có xu hướng chạy trên bề mặt bên ngoài của bất cứ loại dây tín hiệu nào, dù cứng hay mềm. Có một câu hỏi đặt ra là liệu yếu tố này có ảnh hưởng đến tín hiệu âm thanh trong dây cáp hay không? Câu trả lời là yếu tố này không quan trọng trong dải tần số âm trầm. Xét về mặt âm thanh, các chứng cứ về ảnh hưởng của “hiệu ứng mặt ngoài” này đều mang tính chủ quan. Cho dù có ảnh hưởng đi nữa bạn cũng không nhất thiết phải dùng các loại cáp đặc biệt. Rất may là hiệu ứng mặt ngoài có thể khắc phục được bằng cách sử dụng phối hợp các lõi đơn có kích thước nhỏ.

    [​IMG]

    2/ Các yếu tố cơ học thì sao

    Dây loa và dây tín hiệu thường gồm ba thành phần: sợi dẫn, điện môi (chất cách điện) và đầu cắm. Sợi dẫn có tác dụng truyền tín hiệu, điện môi là lớp chất cách điện bọc quanh các sợi dẫn và vỏ ngoài; còn đầu cắm là đầu nối giữa dây và thiết bị âm thanh. Những thành phần này tập hợp với nhau thành cấu trúc vật lý gọi là cấu hình dây. Mỗi thành phần đều có ảnh hưởng tới đặc tính âm thanh của dây.

    Hầu hết các lõi cáp đều bao gồm các sợi đồng xoắn chặt vào nhau. Các dây dẫn lõi này được cách điện rồi bện vào nhau và bọc bởi một lớp cách điên khá,các lớp giáp chống nhiễu ,dây chịu lực và cuối cùng là một lớp vỏ ngoài để tạo nên một dây cáp hoàn chỉnh. Loại cáp đơn giản nhất phải kể đến dây tín hiệu không cân bằng (RCA interconnect). Phần lớn các dây tín hiệu cân bằng (dây balance) bao gồm hai dây lõi xoắn vào nhau, bọc bởi một lớp bảo vệ. Như vậy sẽ giúp loại bỏ các tín hiệu RFI (tín hiệu giao thoa tần số vô tuyến) bên ngoài và tín hiệu EMI (tín hiệu giao thoa điện từ) từ các dây dẫn, biến áp và các nguồn điện từ lân cận.

    Nói tóm lại vô cùng phong phú trong kết cấu , nhưng kết cấu cơ bản là sợi dẫn, điện môi (chất cách điện) và đầu cắm


    II. Các loại dây tín hiệu và dây loa


    [​IMG]


    1/ Dây tín hiệu (Interconnect): có nhiệm vụ chuyển tải các tín hiệu mức thấp (thường từ vài milivolt đến vài volt) giữa các thiết bị nguồn (đầu đĩa than, đầu CD, tuner, đầu băng) với DAC, preampli và giữa preampli tới ampli công suất.

    Dây tín hiệu cũng có một vài loại như sau:

    Dây tín hiệu không cân bằng (Unbalanced Interconnect): thường có hai lõi và có đầu cắm kiểu RCA (bông sen). Nó còn được gọi là dây tín hiệu single-end.

    Dây tín hiệu cân bằng (Balanced Interconnect): có ba lõi dây và sử dụng đầu nối kiểu XLR. Nó thường dùng cho các thiết bị có đầu vào và đầu ra cân bằng.

    Dây tín hiệu jsố (Digital Interconnect): là một dây tín hiệu đơn truyền tín hiệu digital, thông thường từ CD transport hoặc các nguồn digital khác tới bộ xử lý digital. Dây digital có loại làm bằng kim loại (coaxial) và loại làm bằng plastic hoặc thủy tinh hữu cơ (optical).


    [​IMG]


    2/ Dây loa (Speaker Cable): dây loa có nhiệm vụ chuyển tải các tín hiệu mức cao (vài đến vài trăm volt) từ ampli đến hệ thống loa.

    Dây loa cũng có một vài loại như:

    Dây loa đơn (còn gọi là single-end): mỗi đầu chỉ có hai cọc đấu, dây là kiểu phổ biến nhất hiện nay.


    [​IMG]
    dây loa đơn


    Dây loa bi-wire, tri-wire: mỗi đầu có 2 hoặc 3 cọc đấu, dùng cho các loa có thể đấu 2 hoặc 3 đường tiếng độc lập.

    dây bi-wire

    [​IMG]


    Cách nối tri-wire : dây tri-wire = bi-wire + cặp dây đơn hoặc ba cặp dây lõi thông thường. Khi dùng kết nối nhiều cầu hệ thống loa con sẽ hoạt động độc lập hoặc chia làm hai hoặc ba nhánh loa bass, mid/treble hoặc bass, mid, treble. Những cảm nhận về độ chi tiết (tiếng tách), độ động cao, trường âm cân bằng sẽ làm bạn ngạc nhiên.

    Dây loa có nhiều kiểu đầu cắm như: đầu kim thẳng, đầu kim cong, bắp chuối, càng cua... trong đó đầu bắp chuối và càng cua là phổ biến nhất trong các dây loa cao cấp. Nếu không có yêu cầu tháo ra tháo vào nhiều, bạn có thể dùng dây loa trần để trực tiếp vào cọc ampli và cọc loa cũng rất tốt.


    III. Còn chất lượng đấu dây và jack kết nối có ảnh hưởng như thế nào

    Các jack nối cũng có tầm quan trọng không kém dây dẫn trong việc duy trì chất lượng âm thanh. Việc đấu cáp với các đầu nối là việc quan tâm hang đầu. Cho dù bạn đầu tư bao nhiêu tiền vào dây dẫn thì bạn vẫn có thể phải nghe những âm thanh không hay nếu bạn không biết cách đấu dây. Nhiều người vẫn thường đổ lỗi cho cáp nhưng thực chất vấn đề lại thuộc về chất lượng đấu dây. Vì vậy đấu dây và jack kết nối cũng là điều cần quan tâm ...

    Các đầu cắm tốt sẽ làm cho âm thanh của dây hay lên nhiều. Người dùng luôn muốn đầu cắm của dây tiếp xúc rộng và chặt với ổ cắm của thiết bị. Một vài loại đầu RCA đôi khi có những khe nhỏ ở giữa chân cắm để nâng cao khả năng tiếp xúc với ổ cắm. Phần lớn các đầu cắm RCA cao cấp thường làm bằng đồng thông thường có pha một chút đồng thau để tăng độ cứng cho chất liệu. Hợp kim này thường được mạ bằng ni-ken, sau đó mạ vàng để tránh ôxy hóa. Ở một số đầu cắm khác, vàng được mạ trực tiếp lên đồng thau. Các chất liệu để làm đầu cắm còn có vàng và rô-đi.

    Đầu cắm RCA và đầu cắm loa được hàn trực tiếp với lõi dây. Đa phần các nhà sản xuất sử dụng các chất hàn có pha chút bạc. Trong kỹ thuật hàn hiện đại, người ta không dùng chất hàn mà hàn trực tiếp sợi dẫn với đầu cắm bằng cách dùng một dòng điện lớn để làm nóng chảy điểm tiếp xúc giữa sợi dẫn và đầu cắm, khiến chúng liên kết lại với nhau, nâng cao khả năng truyền dẫn tín hiệu của dây.


    IV. Và cuối cùng là thông số và vật liệu của dây dẫn trong âm thanh


    1/ Thông số dây dẫn hay chỉ số AWG là gì ?

    Tại sao lại quan tâm đến chỉ số này ....


    [​IMG]


    AWG – American Wire Gauge là chỉ số chỉ cỡ dây dẫn theo tiêu chuẩn Mỹ. Chỉ số AWG có tỷ lệ nghịch với cỡ dây dẫn. AWG càng nhỏ thì đường kính dây dẫn càng lớn. Vì AWG được tính theo số lần qua khuôn kéo dây, để đạt được một dây có đường kính nhỏt thì cần phải kéo khối kim loại qua nhiều khuôn, số AWG chính là số khuôn mà dây được kéo qua.

    Số khuôn kéo càng ít (chỉ số AWG càng nhỏ) tương đương với cỡ dây càng lớn. Chỉ số AWG có tỷ lệ nghịch với cỡ dây dẫn. Chỉ số cáp AWG càng nhỏ thì đường kính dây dẫn càng lớn. Để có chất lượng âm thanh tốt, các chuyên gia âm thanh khuyến cáo nên dùng dây có cỡ AWG 16 trở xuống, tương đương với đường kính sợi 1.29mm trở lên.

    Diện tích mặt cắt ngang của dây dẫn là một trong những yếu tố quan trọng nhất để xác định khả năng truyền tín hiệu của dây dẫn (thuật ngữ "gauge" dùng để chỉ đường kính của dây). Kim loại màu thường được sử dụng trong dây dẫn là đồng, tuy nhiên, nó cũng có thể là nhôm hoặc các loại vật liệu khác.

    Thông số cơ bản một số cáp theo American Wire Gauge

    AWG - Đường kính (mm)- Tiết diện (mm2) - Tổng trở (Ohm/1Km)
    15 - 1.45 - 1.65 - 10.45
    16 - 1.291 - 1.31 - 13.18
    17 - 1.15 - 1.04 - 16.614
    18 - 1.02362 - 0.823 - 20.948
    19 - 0.9116 - 0.653 - 26.414
    20 - 0.8128 - 0.518 - 33.301
    21 - 0.7229 - 0.41 - 41.995
    22 - 0.6438 - 0.326 - 52.953
    23 - 0.5733 - 0.258 - 66.798


    [​IMG]


    [​IMG]


    Tiêu chuẩn AWG được dựa trên tổng số 44 kích cỡ dây từ 0-40, và bổ sung thêm 00, 000, 0000 cho những loại dây có kích cỡ lớn. Dù AWG công nhận đến 44 cỡ dây dẫn khác nhau, nhưng không phải cỡ dây dẫn nào cũng được sử dụng rộng rãi. Thông thường, ta chỉ cần sử dụng một số cỡ dây dẫn phổ biến. Dưới đây là những loại dây dẫn thường được sử dụng hiện nay và chỉ số AWG tương ứng của chúng:

    Speaker Cable hay dây nguồn âm thanh : < 16 AWG
    Cáp đồng (cho truyền hình cáp và một vài ứng dụng Ethernet): 18 và 20 AWG
    Cáp Cat 5, Cat 5e, Cat 6 (đối với các mạng LAN và Ethernet): 23 và 24 AWG
    Cáp điện thoại: 22 - 28 AWG


    xin gửi các bác specification của chuẩn AWG


    [​IMG]


    Nghiên cứu bảng tra data sheet đầy đủ của AWG ở đây


    [​IMG]


    2/ Vật liệu dây dẫn

    Bảng dưới đây là khả năng dận điện của một số kim loại


    [​IMG]


    Sợi dẫn thường làm từ đồng hoặc bạc. Trong các dây cao cấp, độ tinh khiết của đồng có ý nghĩa rất quan trọng. Hợp kim đồng đôi khi chứa một lượng đồng nguyên chất và một phần tạp chất.

    Ví dụ, một sợi dẫn có 99,997% đồng nguyên chất, tức là nó chứa 0,03% hợp chất khác (có thể là sắt, sunfua, nhôm...). Nhiều người cho rằng đồng càng tinh khiết, âm thanh càng hay. Nhiều hợp kim đồng còn có tên là OFC (đồng không ngâm ôxy). Khi chế tạo dây đồng OFC, người ta đã loại bỏ phần lớn thành phần ôxy, hay nói chính xác hơn là được rút bớt đi khỏi hợp kim đồng vì thực ra, không thể loại bỏ hoàn toàn ôxy ra khỏi đồng. Như vậy, đồng sẽ đỡ bị ôxy hóa, đảm bảo cho lõi dây giữ được khả năng truyền dẫn ổn định.

    - Đồng OFC ( Oxygen Free Copper ) thường là loại đồng gần tinh khiết 99.999% sau khi đựoc triết suất đã được đưa qua dây truyền công nghệ xử lí đặc biệt để trở thành OFC.
    - Còn loại đồng 99.95% chỉ là loại đồng được triết suất dưới dạng bình thường không qua công nghệ sử lí và vẫn còn nhiều tạp chất. 0.5% còn lại trong đó có rất nhiều các chất khác như kẽm, sắt, chì và 1 số chất khác.

    Về 99.999% hay 99.95% phụ thuộc vào nhu cầu sử dụng của từng sản phẩm mà nhà sản xuất thêm vào hay bớt đi thành phần trong đó.

    Theo kinh nghiệm bản thân thì dây đồng cho lợi dải trầm , dây bạc lợi dải cao ....

    Vậy có những thông số sau đây cần quan tâm khi mua dây dẫn ...

    1. Vật liệu dây dẫn nào tốt thường là đồng hoặc đồng pha bạc , hay đồng pha vàng hay bạc pha vàng ...
    tùy vào loa hay hệ thống ở nhà thiếu trầm hay thiếu dải cao thì chọn loại thích hợp

    Theo kinh nghiệm bản thân thì dây đồng cho lợi dải trầm , dây bạc lợi dải cao ....

    thường dùng đồng OFC hay tên gọi khác là OCC deoxygenated copper conductors

    2. Kích cở dây càng lớn càng tốt về mặt điện học thì dẫn càng tốt theo chuẩn AWG là <16 AWG (ví dụ 3 lõi thì 3*1.29mm trở lên) ,ngoài ra chúng ta quan tâm thông số conductor resistance thường chọn nhỏ hơn <13ohm / 1Km

    ví dụ như thống số bên dưới

    * Max. Conductor Resistance 10.0 Ω/km JISC3005 6 20℃
    * Min. Insulation Resistance 1000 MΩ-km JISC3005 9.1 20℃
    * Dielectric Strength AC. 1000 V/1 min. JISC3005 8

    3. Cấu tạo :

    dây dẫn điện là gì , dây mấy lõi , cáp xoắn hay cáp bẹ , lớp cách điện là gì , lớp bảo vệ bên ngoài là PVC hay là gì , cáp có lớp shield chống nhiễu hay không ? cáp có kẽm chịu lực kéo không ....

    chú ý dây loa có chiều và ko nên gắn ngược chiều


    [​IMG]


    Ví dụ thông số như bên dưới :

    Specifications : OCC material
    •37 strands silver-plated α (Alpha) Conductor・0.25mm diameter × 1 core plus 37 strands of 0.25mm diameter μ-OFC α (Alpha) Conductor x 2 core
    •Insulation: Polyethylene (Red/Natural/Yellow) 3.4mm diameter
    •Inner Sheath: Flexible PVC (Black) 9.3mm diameter
    •Shield: 9 x 24 strands of 0.12mm braided α (Alpha) conductor
    •Sheath: Flexible PVC (Brown) approx. 12.9mm diameter

    Trên đây là một vài kiến thức chia sẽ với mọi người ... xin nhận góp ý để hoàn thiện nếu anh em thấy sai sót chổ nào ... vì kiến thức là vô tận ...

    Langthangvn33

    Trích từ bài post gốc tại đây.
     
    Chỉnh sửa cuối: 18/5/15
    concameo cảm ơn bài này.
  3. Thanksforsharing

    Thanksforsharing Moderator

    Tham gia ngày:
    1/1/10
    Bài viết:
    2,433
    Đã được cảm ơn:
    824
    Điểm thành tích:
    113
    Tiền:
    3,304 CR
    Ðề: Những bài viết hay dành cho người mới bắt đầu

    Những điều cần biết trước khi mua máy tính mini


    [​IMG]

    Thế giới thiết bị máy tính đang được thu nhỏ dần. Trong trường hợp bạn đang tìm mua một chiếc máy tính mới đủ dùng cho nhu cầu làm việc văn phòng vừa phải hay giải trí nhẹ nhàng thì máy tính mini thế hệ mới là lựa chọn đáng chú ý hơn là các máy tính to lớn kềnh càng truyền thống bởi công nghệ ngày nay đã phát triển đủ để sản xuất ra những chiếc máy tính mini trong khi sức mạnh xử lý không vì vậy mà phải đánh đổi quá mức.

    Sau đây là tổng hợp một số lưu ý cần biết cho những người dùng có nhu cầu chuyển sang dùng máy tính mini do trang tin Make Use Of đề xuất.

    Máy tính chỉ có bộ khung vs. Máy dùng được ngay (Barebones vs. Ready To Go)

    [​IMG]

    Có nhiều mẫu máy tính mini để người mua tùy ý lựa chọn, trong số đó thì Intel NUC là thiết bị được chọn mua nhiều nhất. Nhưng hãy lưu ý rằng trong thế giới máy tính mini sẽ chia làm hai loại: máy chỉ có bộ khung và máy mua về là dùng được ngay.

    Một chiếc máy tính chỉ có bộ khung sẽ bao gồm thùng máy, bo mạch chủ và chip xử lý còn lại thì người dùng sẽ cần mua thêm ổ cứng lưu trữ, RAM gắn thêm vào. Và lẽ dĩ nhiên là chiếc máy tính dạng này sẽ có giá rẻ hơn nhiều so với máy có sẵn mua về là dùng được ngay - cũng không khác gì so với các hệ thống máy tính lớn truyền thống. Trong trường hợp người mua muốn tận dụng lại các thành phần linh kiện của máy tính cũ sẵn có hay muốn tinh tuyển cho vừa ý thì một chiếc máy tính dạng barebone là thích hợp nhất. Đại diện sáng giá là Intel NUC5i5RYK có giá bán 340 USD.

    Trong khi đó máy dùng được ngay sẽ được ráp sẵn ổ cứng lưu trữ, RAM cũng như một hệ điều hành tùy người mua chọn. Khi mua máy này, nó sẽ sẵn sàng để dùng ngay sau khi khui hộp, và là lựa chọn lý tưởng đối với những người dùng muốn nhanh gọn lẹ.

    Tuy vậy, dù cho là người dùng chọn mua máy chỉ có phần khung rồi về ráp thêm hay là máy "cỗ bàn bày sẵn" thì cả hai đều cùng được trang bị các kết nối Wi-Fi, Bluetooth, USB cùng một số thành phần khác.

    Không bàn phím, chuột, hay màn hình

    [​IMG]

    Khi mua một chiếc máy tính mini, người dùng cần xác định rõ là họ chỉ có chiếc máy tính mà thôi, chứ không có thêm thứ gì khác. Họ sẽ cần mua thêm một bàn phím và chuột, một màn hình, và cả bộ loa. Đây mới chỉ là những thành phần cơ bản nhất, còn tùy nhu cầu mà người dùng sẽ mua bổ sung thêm các thành phần khác nữa.

    Để tiết kiệm, thì người dùng có thể tận dụng lại những gì họ đang có, chẳng hạn như màn hình, bàn phím hay chuột và bộ loa miễn là chúng tương thích với các cổng kết nối có trên chiếc máy tính mini.

    Đối với màn hình: nên để ý máy tính mini nhiều khi sẽ chỉ có một ngõ ra mini HDMI (như NUC) mà màn hình lại có cổng HDMI. Trong trường hợp này bạn phải mua loại dây chuyển đổi mini HDMI - HDMI. Còn khi gặp màn hình không có cổng HDMI thì người dùng sẽ cần có một đầu chuyển HDMI-to-DVI. Bên cạnh đó, người dùng cũng nên lưu ý đến việc mua thêm một bộ giá đỡ VESA dùng cho màn hình máy tính trong trường hợp họ muốn đặt bộ PC lên trên màn hình.

    Đối với bàn phím và chuột: Người dùng sẽ không thể tận dụng lại bàn phím và chuột dùng cổng PS/2 để kết nối. Các máy tính mini sẽ chỉ hỗ trợ chuột và bàn phím dùng kết nối USB hoặc Bluetooth. Thế nên, ngoài việc chọn mua đúng thì người dùng cũng cần lưu ý thêm rằng họ nên mua loại dùng kết nối Bluetooth để tiết kiệm được một cổng USB quý giá trên máy tính.

    Những thứ có thể nâng cấp và không thể nâng cấp

    [​IMG]

    Không giống như một chiếc máy tính lớn hình tháp truyền thống, thành phần linh kiện có thể nâng cấp của một chiếc máy tính mini là hết sức giới hạn. Với kích thước nhỏ bé của nó sẽ đồng nghĩa với việc bo mạch chủ không có sẵn nhiều đất trống cho các thành phần khác. Thực tế là khi mở một chiếc máy tính mini ra, người dùng sẽ thấy rằng mọi thành phần linh kiện đều được bố trí hết sức kỹ càng, tinh gọn tối đa đến độ không có lấy một khe hở để nhét thêm bất kỳ thứ nào khác vào nữa.

    Vậy nên, trong khi với một chiếc máy tính để bàn truyền thống thì khi có điều kiện người dùng có thể dễ dàng nâng cấp chip xử lý lên Core i7 từ Core i3, song với máy tính mini thì điều này là không thể. Thực tế thì người dùng vẫn có thể nâng cấp CPU bằng sự trợ giúp của một... mỏ hàn khò, nhưng làm vậy là tự xé bỏ tấm phiếu bảo hành và không một nhà sản xuất nào khuyến khích hành động "em yêu khoa học" ấy. À, còn một giải pháp nữa nếu thật sự cần phải nâng cấp là... mua một chiếc máy tính dạng barebone khác, chuyển mọi linh kiện còn dùng được sang, và đem rao bán chiếc máy cũ trên mạng.

    Vậy thì đâu là những thành phần mà người dùng có thể nâng cấp hay hoán chuyển? Đó chính là RAM và ổ cứng lưu trữ.

    Dùng RAM cho laptop chứ không phải RAM của máy tính để bàn

    [​IMG]

    Một lưu ý quan trọng khác nữa mà người dùng cần biết là các máy tính mini sẽ chỉ hỗ trợ RAM dùng cho máy tính xách tay chứ không dùng RAM của máy tính để bàn. Điều này có thể dễ hiểu là do kích thước của bo mạch chủ nhỏ thành ra cần RAM có kích thước nhỏ mới gắn vừa - giá của RAM dành cho laptop có cao hơn chút đỉnh so với RAM của máy tính để bàn.

    Ngoài ra, trước khi mua RAM thì người dùng cũng cần kiểm tra xem có tất cả bao nhiêu khe cắm (DIMM slot). Hầu hết các máy tính mini được trang bị hai khe cắm, nhưng cũng có một số chỉ có duy nhất một khe cắm. Các bạn hẳn là không muốn lâm vào tình cảnh mua hai thanh RAM mà chỉ có một khe cắm, và thế là còn một thanh dư ra không biết dùng vào đâu. Đối với các bộ máy tính có hỗ trợ hai khe cắm RAM thì 8GB RAM là đủ cho đại đa số người dùng.

    Kích thước ổ cứng lưu trữ: M.2 vs 2.5″

    [​IMG]

    Thông thường các máy tính mini sẽ hỗ trợ hai loại ổ cứng lưu trữ M.2 và 2.5 inch. Với M.2 thì người dùng sẽ chỉ có bộ nhớ lưu trữ dạng flash trong khi với chuẩn ổ cứng 2.5 inch sẽ cho phép người dùng linh hoạt chọn giữa SSD và HDD tùy vào nhu cầu và điều kiện. Lần nữa, điều quan trọng là người dùng cần biết họ đang mua chiếc máy tính hỗ trợ loại ổ cứng nào.

    M.2 là phiên bản mới hơn của “mSATA”, các SSD dạng này dài hơn và hẹp hơn một chút so với một ổ cứng SSD tiêu chuẩn. Và thực tế là chúng trông giống các thanh RAM nhiều hơn. M.2 cho tốc độ truy xuất nhanh hơn ổ cứng SSD tiêu chuẩn.

    Các ổ cứng 2.5 inch thì rẻ hơn và có sức chứa lớn hơn so với M.2. Một ổ cứng SSD 2.5 inch thì nhanh hơn ổ cứng HDD 2.5 inch song bù lại ổ cứng HDD thường thường sẽ có nhiều lựa chọn về sức chứa cũng như có dung lượng nhiều hơn SSD.

    Chip xử lý: Intel vs. AMD

    [​IMG]

    Ở mặt trận máy tính để bàn thì các chip xử lý của Intel chiếm ưu thế tuyệt đối so với đối thủ của AMD. Bước sang thế giới máy tính xách tay, các chip xử lý đến từ Intel nhìn chung cũng tiết kiệm điện năng hơn so với AMD, vì vậy sẽ cho phép thời gian sử dụng pin được lâu hơn. Nhưng mọi thứ đã trở nên khác hẳn khi bước vào lĩnh vực máy tính mini.

    Tuy là các máy tính mini dùng chip xử lý tương tự như của máy tính xách tay, song lúc này đây thì tuổi thọ của pin dùng không còn là mối quan tâm hàng đầu nữa, do vậy thế mạnh tiết kiệm điện năng khi dùng trên laptop đã trở thành một yếu tố phụ. Hơn thế nữa, các chip xử lý của AMD gần đây đã có bước cải tiến mạnh về mặt đồ họa, giúp vượt mặt được đối thủ Intel trong cùng tầm giá.

    Lẽ dĩ nhiên là các bạn sẽ không thể mua một chiếc máy tính mini Intel NUC với chip xử lý của AMD ở bên trong. Song có nhiều mẫu máy tính của các nhà sản xuất bên thứ ba được trang bị chip AMD để người dùng mặc sức lựa chọn, và chúng đều cho thấy hiệu năng xử lý đồ họa lẫn khi chơi game tốt hơn Intel, trong số này có thể kể ra mẫu máy tính Gigabyte Brix. Thêm một thực tế nữa là nếu người dùng muốn mua một chiếc máy tính mini để xây dựng bộ HTPC thì nhiều chuyên gia khuyến nghị rằng nên chọn AMD hơn là Intel.

    Chơi game không phải là một thế mạnh

    [​IMG]

    Dù là các chip xử lý của AMD có tốt hơn so với Intel khi xét về hiệu suất chơi game, nhưng các máy tính mini vẫn không phải là lựa chọn lý tưởng cho các game thủ. Ngay cả các máy tính mini mạnh mẽ cũng không chắc chạy mượt mà các tựa game mới nhất. Do đó, nếu là một game thủ đích thực thì lời khuyên là không nên chọn mua máy tính mini, còn nếu chỉ chơi game theo kiểu giải trí vui vui thì dùng máy tính mini có thể ok.

    Kiểm tra xem hệ điều hành là Windows hay Linux

    [​IMG]

    Các máy tính barebone với tính chất của nó sẽ không được cài đặt sẵn hệ điều hành Windows hay Linux hay bất kỳ một hệ điều hành nào. Song với các máy tính mua về là dùng liền thì vẫn có một số được cài đặt sẵn hệ điều hành và một số thì không. Thế nên, người dùng cần phải kiểm tra điều này trước khi mua, cũng như lưu ý câu chữ "có hỗ trợ Windows” hoặc “kèm theo Windows” là rất khác nhau vì “hỗ trợ” chỉ nói rằng chiếc máy tính ấy có thể chạy hệ điều hành Windows nhưng không được cài đặt sẵn.

    Ngoài ra, các máy tính mini lại hoạt động tốt với hệ điều hành Linux, do đó người dùng khi mua cũng nên xem xét lựa chọn này. Và đừng quên là nếu muốn xây dựng một trung tâm media thì Linux sẽ tốt hơn do lẽ nó hoàn toàn miễn phí.

    Kiểm tra kích cỡ và lựa chọn treo vào màn hình

    [​IMG]

    Một trong những điểm thú vị nhất của dòng máy tính mini là kích cỡ nhỏ của nó, giúp người dùng có thể treo nó đằng sau màn hình hoặc tivi một cách thẩm mỹ nhất có thể. Và điều mà người dùng cần chú ý là khoảng cách giữa màn hình / tivi với tường đằng sau, tương quan kích thước giữa máy tính và màn hình / tivi để có cách bày trí cho đẹp.

    Giờ thì các bạn đã biết nên chọn mua một chiếc máy tính mini cần những gì rồi, hãy "chiến" nào!


    The drifter​


    Trích từ bài post gốc tại đây.
     
  4. Thanksforsharing

    Thanksforsharing Moderator

    Tham gia ngày:
    1/1/10
    Bài viết:
    2,433
    Đã được cảm ơn:
    824
    Điểm thành tích:
    113
    Tiền:
    3,304 CR
    Ðề: Những bài viết hay dành cho người mới bắt đầu

    7 thuật ngữ cần biết khi mua một ổ đĩa SSD


    [​IMG]

    Mua một thiết bị mới lần đầu tiên thường để lại những kỷ niệm thương đau, mà nói nhẹ đi thì là "bỏ tiền mua kinh nghiệm". Các ổ cứng lưu trữ SSD cũng không phải ngoại lệ dù rằng không thể phủ nhận những tính năng vượt trội hấp dẫn của chúng so với HDD. Tại thời điểm này, hầu hết người dùng còn khá dè dặt khi chọn mua một ổ đĩa lưu trữ SSD bởi giá còn khá cao, dung lượng lưu trữ thì bị hạn chế nhiều so với lão đại HDD, chưa kể đến một số rắc rối do tương thích khi lắp vào máy tính.

    Tuy vậy, người dùng cẩn thận là tốt song cũng đừng quá cả lo, thay vào đó hãy tìm cách trang bị thêm kiến thức về thiết bị lưu trữ của tương lai này. Lấy ví dụ về giá bán của một ổ cứng SSD, thực tế thì giá của mặt hàng này đã giảm kha khá trong ít năm gần đây nhờ vào sự phát triển không ngừng của công nghệ. Cụ thể hơn, nếu như cách đây 05 năm vào năm 2010 thì trung bình người dùng sẽ phải chi ra 3 USD cho một gigabyte lưu trữ, song hiện tại ở năm 2015 thì người dùng đã có thể chỉ phải chi ra 0,34 USD cho một gigabyte lưu trữ (lấy ví dụ giá bán của ổ cứng SSD Crucial BX100 500 GB là 169 USD).

    [​IMG]

    Với ví dụ ở trên, nhìn chung thì các ổ cứng SSD vẫn có giá còn khá cao so với loại ổ cứng HDD truyền thống lâu nay khi mà một ổ cứng HDD Western Digital Blue có dung lượng gấp đôi (1 TB) có giá chỉ 53 USD. Vì vậy, nếu đặt trọng tâm vào việc tiết kiệm chi phí đầu tư thì rõ ràng là các ổ cứng HDD chắc chắn thắng SSD mà không cần phải bàn cãi gì nhiều.

    Nói đi thì cũng phải nói lại, với châm ngôn Thời giờ là vàng bạc, bỏ ra một khoản đầu tư khá cao bước đầu song được lợi về tốc độ xử lý và sự thích nghi cùng tiến bộ của công nghệ tương lai sẽ là yếu tố rất nên cân nhắc. Nhưng trước hết, người dùng sẽ cần biết những thuật ngữ liên quan đến món đồ mà họ sắp mua về, để từ đó hiểu biết thêm khi mua về sẽ nhận được những lợi ích nào.

    Form Factor (Cỡ đĩa)

    Thuật ngữ này nói một cách đơn giản và ngắn gọn nhất là cỡ hay kích thước thực tế bao lớn của một ổ cứng SSD. Form factor là con số rất quan trọng mà người dùng cần lưu ý khi quyết định chọn mua một ổ SSD, vì nó sẽ cho biết liệu ổ cứng SSD ấy có thể gắn vừa vào bên trong máy tính hay không?

    [​IMG]

    Với các ổ đĩa SSD, con số kích thước chung sẽ thường là 2.5 inch, vô tình lại cũng trùng với kích thước của các ổ HDD dành cho máy tính xách tay. Trong khi đó, các ổ đĩa HDD của máy tính để bàn có kích thước là 3.5 inch, nhưng người dùng hoàn toàn có thể gắn một ổ SSD 2.5 inch vô chiếc khay chuyển đổi (case adaptor) có kích thước 3.5 inch dùng cho máy tính để bàn mà không gặp trở ngại hay giảm sút nào về hiệu năng của SSD.

    Một chỉ số khác mà người dùng cần quan tâm khi xét đến kích thước của ổ cứng SSD là chiều cao z (z-height), tức còn có thể hiểu là độ dày của một ổ SSD khi đặt trên mặt phẳng. Hai ổ cứng SSD có cùng kích thước 2.5 inch nhưng lại không chắc chắn rằng sẽ có chiều cao z tương tự nhau, nên rất có thể một chiếc sẽ dày hơn so với chiếc còn lại. Tuy vậy, chỉ số này chỉ quan trọng với những người mua SSD dùng cho máy tính xách tay.

    IOPS (Tốc độ đọc và ghi ngẫu nhiên)

    Khi xét về hiệu năng của một ổ cứng SSD thì thuật ngữ quan trọng tiếp theo mà người dùng cần biết và cần kiểm tra là IOPS (đọc là “eye-ops”), viết tắt của Input/Output Operations Per Second, hay có thể hiểu là tốc độ đọc và ghi (ngẫu nhiên) trong một giây.

    IOPS là chỉ số dùng để đánh giá tốc độ đọc và ghi ngẫu nhiên các gói dữ liệu trên một khu vực ngẫu nhiên của ổ đĩa. Chỉ số này được xây dựng mô phỏng điều kiện làm việc thực tế hằng ngày của một người dùng bình thường, thường lấy tiêu chuẩn 4KB dung lượng các tập tin nhỏ như các tập tin cache của trình duyệt, cookie, page file, tài liệu... Có thể dùng công thức quy đổi từ chỉ số IOPS ra chuẩn MB/giây theo công thức sau: IOPS x 4 / 1024 = tốc độ MB/giây. Ví dụ chúng ta có chỉ số IOPS là 90.000 thì phép tính sẽ là 90.000 x 4 / 1024 = 351,56 MB/giây. Do vậy, chỉ số IOPS càng lớn càng tốt.

    Người dùng cũng đừng nhầm lẫn giữa chỉ số IOPS với tốc độ đọc và ghi tuần tự thường được các nhà sản xuất quảng cáo, chẳng hạn như 550MB/giây. Đây là một thông số phép đo khác dùng để cho biết tốc độ đọc và ghi các dữ liệu lớn lên một khu vực cụ thể trên ổ đĩa. Tất nhiên là thông số này càng lớn cũng càng tốt rồi.

    Write Cycles (Chu kỳ ghi)

    [​IMG]

    Kiến trúc của một ổ đĩa SSD là tập hợp nhiều cell khác nhau nhóm thành các page, tiếp theo nhiều page khác nhau ấy sẽ nhóm thành các block. Dữ liệu trên các block này không thể ghi đè lên được, thay vào đó toàn bộ một block thông tin sẽ cần phải được xóa trước khi muốn ghi dữ liệu mới lên.

    Cứ mỗi lần một block dữ liệu được xóa và ghi lên thì được gọi là một chu kỳ ghi (write cycle). Vậy đâu là lý do khiến thông số này được xem là quan trọng mà người dùng cần biết? Điều này đơn giản bởi chu kỳ ghi của các block chứa dữ liệu ấy là có giới hạn, và khi đạt đến ngưỡng thì